TỰ DO DÂN CHỦ THỜI LÝ- TRẦN

(Xét trong không gian văn hóa Hoàng thành Thăng Long)
Nguyễn Quang Hà
Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long- Hà Nội
Dẫn nhập
Dưới chế độ phong kiến, quyền sống, quyền tự do, dân chủ của người dân cũng đã bị tước mất hay hạn chế rất nhiều. Tuy nhiên, không phải dưới mọi chế độ phong kiến, dưới mọi triều đại đều như nhau, mà nói khác đi, gam màu chính trị ấy có đậm, có nhạt, có khi là bảo thủ, lúc lại tiến bộ. Thậm chí trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, sự tự do, dân chủ phát triển giường như có đâu đó một xã hội dân chủ thực sự và con người khi đó không phải là “thần dân” của xã hội phong kiến mà nó mang “khuôn mặt” thần sắc như những công dân. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến triều đại Lý Trần- một triều đại được coi là để lại nhiều bản sắc văn hóa, dấu ấn tốt đẹp cho đời sau trong đó có tư tưởng nhân văn cao đẹp: Tự do- dân chủ.
Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi cũng không có tham vọng đề cập hết một khoảng thời gian khá dài với 114 năm triều Lý (1009- 1125) và triều đại nhà Trần tồn tại 175 năm (1225- 1400) mà chúng tôi chỉ có điều kiện điểm qua những giai đoạn tiểu biểu với những sự kiện có chọn lọc để minh chứng những nỗ lực thực thi quyền tự do dân chủ của triều đình Lý- Trần với những vị vua có trách nhiệm. Điều đặc biệt ở đây là cái quyền thiêng liêng ấy lại được diễn ra ở đúng nơi có uy quyền cao nhất trong một không gian văn hóa đặc biệt: Hoàng Thành và Cấm thành Thăng Long với những con người cụ thể như: vua, quan đại thần, tôn thất nhà vua, những người lính thường và những người dân. Ở đó có một môi trường sinh hoạt, diễn ra các mối quan hệ, sự tương tác, hành xử giữa vua với các quan, vua với những người trong thân tộc, tôn thất, giữa vua với dân… Hiện thực cuộc sống không kém phần đa dạng phúc tạp mà những góc khuất như những tảng băng chìm ẩn chứa nhiều bí mật, sử thần không phải việc gì cũng ghi. Nhưng những gì mà chính sử chép lại cho chúng ta hôm nay cho thấy biết bao điều tích cực và có tác dụng tham khảo trong thực tiễn.
Ở đây, chúng ta cũng cần hiểu một cách văn tắt về khái niệm dân chủ và tự do. Các nhà nghiên cứu thường đánh giá, ca ngợi triều đại Lý – Trần là triều đại gần dân, thân dân. Điều đó cũng đúng. Nhưng ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến yếu tố chủ động, lấy đại đa số người dân làm đối tượng xem xét, họ đã làm chủ được cuộc sống của họ.
Khái niệm “Dân chủ” được hiểu là: Chính quyền của quốc gia thuộc về toàn thể nhân dân(Souverainete(sắc) du peu-ple) (2)
Đã có cách hiểu tự do như sau: Tự do: “Chỉ theo ý mình, không chịu ai bó buộc (liberté) (3). Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm Tự do, dân chủ dưới góc nhìn của hình thái, thể chế xã hội xã hội.
Điều đáng lưu ý là khái niệm thuật ngữ “tự do” là khái niệm của Phật giáo nên nó cũng xuất phát từ cơ tầng của xã hội Phật giáo. Triều đại nhà Lý là triều đại lấy nền tảng Phật giáo làm bệ đỡ tư tưởng nên nó đã kế thừa được tinh thần tự do, bình đẳng của chính Phật giáo.(1)
1. Tự do, dân chủ gắn liền với tinh thần khoan dung, quan tâm đến tín ngưỡng tôn giáo
Ngay từ khi mới thiên đô,Lý Công Uẩn đã nhanh chóng quan tâm đến các di tích chùa quán như là hình thức trả ơn đối với lực lượng Phật giáo- Nơi xuất thân và trưởng thành của ông, vừa là một nghĩa cử để thu phục nhân tâm khi đó. Bởi lẽ, Phật giáo đương thời được coi là tín ngưỡng nền tảng xã hội. “Năm Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ nhất(1010)… màu thu tháng 7(…) xuống chiếu truyền cho những kẻ trốn tránh phải về quê cũ. Lại hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại.(…Màu đông, tháng 12 Cấp áo quần, lương thực, thuốc men cho 28 người lính man bị Ngọa Triều bắt, sai người đưa về quê cũ. Tha cho người ở vùng Nam Giới, huyện Thạch Hà thuộc Châu Hoan được trở về bản huyện (4)
Tinh thần tự do, dân chủ thể hiện tinh thần tương thân tương ái, thể hiện chính sách khoan hồng đối với người có tội: “Ất mùi, Long thụy Thái bình năm thứ 2 (1055), mùa đông tháng 10 đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gong cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín than, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa”(5)
Năm 1021 Tân Dậu [ Thuận Thiên năm thứ 12(1021). Mùa xuân tháng 2, lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết thiên thành, lấy tre kết làm một ngọn núi gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài của Quảng phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng của cầm thú làm vui để ban yến cho bề tôi” (6)
2. Tự do dân chủ lấy lợi ích của dân chúng làm trọng, công bằng ngay trong hang ngũ các thân vương
Mục đích không phải phục vụ cho tầng lớp thống trị. Nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân thì được coi là không tiến bộ “Nhâm tuất[ Thuận Thiên] năm thứ 13(1022), mùa xuân tháng 2, vua thấy tiết Thiên Thành làm núi giả khó nhọc cho dân, bãi đi, chỉ đặt yến lễ mà thôi” (7)
Dân chủ ngay đối với việc truyền ngôi, nó đòi hỏi các vị hoàng tử phải gia sức rèn luyện tốt, không phải cứ nghiễm nghiên người con trưởng của mẹ đích là được truyền ngôi mà dựa vào phẩm chất đạo đức và tài năng của người sẽ kế nhiệm. Đúng đạo đức và tài năng phải do quá trình rèn luyện mà có. Như thế nhà vua vô hình chung phải có đầy đủ phẩm chất “tu, ttè, trị, bình”(Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).
– “Lê Văn Hưu nói: Nhà Lý phong các con mẹ đích đều làm vương, các con mẹ thứ đều làm hoàng tử mà không đặt ngôi hoàng thái tử. Đến khi nào vua ốm nặng mới chọn một người trong các con cho vào để nối nghiệp lớn. Truyền dần thành tục, không biết là ý thế nào. Có người nói: Nhà Lý không đặt thái tử trước là vì muốn cho các con chăm làm điều thiện. Nếu lập ngôi thái tử thì phận vua tôi đã định dù có con hiền như Vi Tử cũng không biết xử trí như thế nào..” (8)
– “Canh Thìn, Càn Phù Hữu Đạo năm thứ 2(1040), mùa hạ tháng 4, ngày mồng 1, xuống chiếu từ nay trở đi phàm nhân dân trong nước ai có việc kiện tụng gì, đều giao cho Khai Hoàng Vương xử đoán rồi tâu lên, lại cho lấy điện Quảng Vũ làm nơi Vương xử kiện”(9)
Đánh giá về sự kiện này, sử thần Ngô Sĩ Liên với quan niệm về chính danh với nhiều thuật ngữ, khái niệm của của lý thuyết Nho giáo đã phê phán: “Chức việc của thái tử, ngoài việc thăm hỏi hầu cơm vua ra, khi ở lại giữ nước thì gọi là Giám quốc, khi đem quân đi thì gọi là Phủ quân, có thế mà thôi, chưa nghe thấy sai xử kiện bao giờ. Phàm việc xử kiện là việc của Hữu ty. Thái Tông sai Khai Hoàng Vương làm việc đó không phải là chức phận của thái tử, lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi xử kiện là không đúng chỗ”(10)
Qua đây thấy rằng điện Quảng Vũ thời Lý làm nơi xử kiện nhưng đến thời Lê chức năng của điện Quảng Vũ không phải để xử kiện, qua lời phê phán “Lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi xử kiện là không đúng chỗ”. Ngày nay, chúng ta hiểu, sự phê phán của Ngô Sĩ Liên là dựa vào công thức chức năng hoàn chỉnh theo mô hình Nho giáo phong kiến phát trển ở mức độ cao và hoàn thiện nhất ở trong lịch sử phong kiến. Nhưng điều quan tâm của chúng ta ở đây là, không phải ngẫu nhiên mà nhà vua không dùng Hữu ty để xử kiện mà lại giao cho Khai Hoàng Vương bởi lúc đó vua đã không tin vào tang lớp quan lieu ở Hữu ty nữa, xã hội những nhiễu, nhiều người bị xử oan uổng quá: ĐVSKTT ghi: “ Năm Nhâm Ngọ [ Càn Phù hữu đạo] năm thứ 4 (1042)(…) ban “Hình thư”. Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu lệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng, rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đức tiền Minh Đạo (11).

– Tự do dân chủ nhưng không có nghĩa là khinh nhờn vua, bất trung, bất kính, mà ngược lại phải giữa đạo vua tôi, cha con. Nếu ai không tuân theo thì quỷ thần giết chết. năm Mậu Thìn (1028) – Loạn Tam Vương nổi lên, có thể nói đây là một năm đầy biến động đối với Kinh Thành Thăng Long. Qua chiêm bao vua được báo trước về việc có loạn tam vương, vua liền phòng bị và thấy ứng nghiệm. “Đến đây xuống chiếu cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu kinh thành Đại La sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy, đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”(12)
Đúng như khẳng định của Đại Việt sử ký toàn thư lời thề ở giữa kinh đô, của triều đình mang yêu cầu của một nội dung trung quân, ái quốc, có hiếu nghĩa với mẹ cha. Sự kiện thề ở thềm rồng và đền Đồng Cổ cho thấy triều đình nhà Lý có sự bất cập do chưa có một bộ luật để quản lý đất nước. Con người khi đó luôn thường trực một niềm tin về đấng siêu nhiên, chủ nghĩa duy tâm. Lời thề trước nơi tôn nghiêm đã chi phối đến các hoạt động, chi phối đến hành vi, cư xử của họ, mang nặng yếu tố dân gian và văn minh làng xã. Đạo quân – thần; phụ- tử đã được đưa ra với yêu cầu phẩm chất trung- hiếu, chi phối đến các quan hệ xã hội. mặc dù các tac giả của đại Việt sử ký toàn thư không bình luận nhưng tự thân nó đã nói lên vấn đề cấp bách cần phải có một hệ thống pháp luật, một hệ tư tưởng dẫn dắt để điều khiển xã hội chứ không phải giản đơn của một lời thề với sự trông mong vào sự trừng phạt của thánh thần.
3. Tự do dân chủ thể hiện việc gần dân, người dân có vai trò chủ động, có sự phản biện xã hội, gần với xã hội dân sự
– Gần dân để hiểu dân:
Muốn điều khiển đất nước tốt, người đứng đầu phải là người thấu hiểu dân, phải “ba cùng’ với dân, gần dân. Với tư tưởng của vua Lý Thái Tông hoàng đế khi đó là cho Khai Thiên Vương ở bên ngoài thành (.“.. Năm Thuận Thiên thứ 3 (1012), phong làm Khai Thiên Vương, cho ra ở bên ngoài (13)
Tuy nhiên, đoạn chính sử của năm 1012 không cho biết thêm cho Khai vương ở Hoàng thành hay Cấm thành (?). Nhưng ở đây có lẽ là ngoài Cấm thành (?). Dựa vào một đoạn chép trong sử năm [ Thiên Thành năm thứ 6] (1033)… tháng 8 ngày 13, vua ra ngoài cửa Trường Quảng xem phủ đệ của hoàng tử vừa xây xong (14)
Xã hội dân sự là một xã hội tiến bộ, một xã hội thực sự của người dân, do người dân tự làm chủ, người dân có chức năng phản biện xã hội. Dưới triều Lý, người dân có quyền vào thẳng sân Long trì trước thềm rồng gióng lên hồi chuông kêu oan, nhà vua phải ra xử kiện. “Năm Kỷ tỵ, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 2 (1029)…Phía đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía tây đặt điện Quảng Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên”(15)
Như thế, người dân thực sự được đối thoại với vua, vua đóng vai trò là “quan tòa”, người tiếp dân chính là vua – người nắm trong tay quyền hành cao nhất, tuy là một xã hội duy trì mối quan hệ “Quân- thần”, thần dân nhưng đã mang yếu tố của một xã hội công dân. Ngược với nó là một xã hội u tối, quân phiệt, vương quyền đi liền với thần quyền: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”.
Tinh thần tự do, dân chủ đó giường như chỉ duy trì trong một thời gian ngắn, coi như là biện pháp tình thế, giải quyết mau lẽ những bức xúc của xã hội căng phồng như một quả bóng sau vụ loạn Tam Vương. Dù vậy, đây cũng là một cố gắng, không muón nói là một sựu thu phục nhân tâm mà là sự sáng suốt, dân chủ để ứng phó với một tình hình thực tế xã hội. Đồng thời với hình thức tự do, dân chủ, triều đình kiên quyết xử dụng hình phạt hết sức hà khắc đối với những trường hợ phản nghịch như đóng cũi đem về kinh sư cho nhà vua ngự ở điện Thiên Khánh xét tội, có trường hợp đem về Chợ Tây (Nhai) xẻo thịt băm xương (16)
Một quan niệm giản dị, dễ hiểu như một chân lý nhưng lại rất hiện đại là: Sở dĩ dân làm sai, thậm chí mắc vào tội hình phạt là do không hiểu, không biết. Chính vì thế mong muốn làm cho dân biết, dân hiểu để dân làm đúng là vấn đề mà vua Lý Thánh Tông phải trăn trở thương xót: “Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, không cứ tội gì nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giản.(17). Biện pháp tức thời là ân xá, tha bổng cho người bị tội, biện pháp lâu dài là san định luật lệnh, “Châm chước thích dụng với thời thế”, làm sách “Hình thư” rồi xuống chiếu ban hành khắp cho dân chúng, phép xử án từ đây được rõ ràng, minh bạch (18)
4. Tự do, dân chủ với công việc tổ chức dân sự
Một xã hôi tiến bộ là một xã hội dân sự, một xã hội thực sự của người dân, do người dân tự làm chủ xã hội, người dân có chức năng phản biện xã hội, ở đây là phản biện chính xã vua- người nắm trong tay quyền hành cao nhất, một xã hội công dân chứ không phải là một xã hội thần dân. Ngược với nó là một xã hội u tối, quân phiệt, vương quyền đi liền với thần quyền: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”
Dân chủ được nhà Lý áp dụng trên cơ sở của nhiều nguyên nhân bởi tảng nền xã hội trong đó yếu được quan tâm tlà tinh thần trọng tước, trọng lão, trọng kinh nghiệm của cư dân sản xuất nông nghiệp., kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Đó là trọng nguwif có công, gnưười già. Dân chủ không phải là sự cào bằng. Dưới thời Thái Ninh (1074), xuống chiếu cho các công thần 80 tuổi đều được chống gậy ngồi ghế khi vài chầu. (19). Lệ này còn được tiếp tục duy trì cho đến cuối triều Trần.
Lê Văn Hưu nói: Nhà Lý phong các con mẹ đích đều làm vương, các con mẹ thứ đều làm hoàng tử mà không đặt ngôi hoàng thái tử. Đến khi nào vua ốm nặng mới chọn một người trong các con cho vào để nối nghiệp lớn. Truyền dần thành tục, không biết là ý thế nào. Có người nói: Nhà Lý không đặt thái tử trước là vì muốn cho các con chăm làm điều thiện. Nếu lập ngôi thái tử thì phận vua tôi đã định dù có con hiền như Vi Tử cũng không biết xử trí như thế nào..” (20)
Trần Thủ Độ – Người “Kiến trúc sư” tài tình của vương triều Trần đã nhận thức sâu sắc được vấn đề tuyển chọn, giao phó đúng người đảm nhận chức tước sao cho đúng người, đúng việc. Tiêu chí của ông là làm sao phải chọn được người tài năng chứ không phải là con ông cháu cha. Chuyện xin chức tước Trân Thủ Độ và Trân Thủ Độ quy định nếu như vậy phải chặt tay: “Trần Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người làm câu đương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người đó mừng rỡ chạy đến. Thủ Độ bảo hắn: “Người vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phan biệt với người khác. Người đó kêu van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ái dám đến thăm vì việc riêng nữa” (21)
Tránh tình trạng cục bộ gia đình trị hay tình trạng “Một người làm quan cả họ được nhờ”, Trần thủ Độ đã khẳng khái tâu thẳng với vua mà không hề phải vòng vo, che đậy ý nguyện của mình để làm sao vua chọn được người tài giỏi, tiêu chí chọn người tài giỏi để giúp vua là tối thượng : “Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: “An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu an hem đều làm tể tướng thì việc triều đình sẽ ra sao?”(22)
Hình phạt rất nghiêm: Năm Ất Hợi, Thông Thụy năm thứ 2(1035). Người Ái Châu làm phản (…) vua bắt được Nguyễn Khánh làm phản đóng cũi đem về kinh sư. Tháng 11 ngày mồng 1, vua từ Châu Ái về đến Kinh, làm tiệc rượu mừng về việc trở về. Úy lạo các tướng sĩ có công. Vua ngự điện Thiên Khánh xét án bọn sư Hồ, Nguyễn Khánh; đều phải xẻo thịt băm xương ở chợ Tây [Tây Nhai- NQH], còn có những kẻ khác thì xét theo tội nặng, nhẹ”(23)
Năm Nhâm Ngọ [ Càn Phù hữu đạo] năm thứ 4 (1042)(…) ban “Hình thư”. Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu lệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng.. Đến đây phép xử án được bằng thẳng, rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đức tiền Minh Đạo (24)
Sự khoan dung thể hiện tinh thần tương thân tương ái, thể hiện chính sách khoan hồng đối với người có tội: “Ất mùi, Long thụy Thái bình năm thứ 2 (1055), mùa đông tháng 10 đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gong cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa”(25)
Sự phân biệt gianh giới, đẳng cấp được ban hành giữa các ty trong Hoàng cung: “Năm Tân hợi [Thần Vũ] năm thứ 3[1071]… mùa đông, tháng 12, vua không được khỏe. Xuống chiếu cho Hữu ty ai vào lầm hành lang tả hữu quan chức đô (Chỉ các quan chức đô – Các đô Cấm vệ) thì đánh 80 trượng (26)
Muốn xã hội phát triển được, có những đóng góp chân thành tiến bộ vì thế nhà lý đã xuống chiếu cầu lời nói thẳng vào năm Bính Thìn [Thái Ninh] năm thứ 5(1076)(27),… mùa hạ tháng 4 (…) xuống chiếu cầu lời nói thẳng.
Mậu Thìn [Quảng Hựu] năm thứ 4(1088), mùa xuân tháng giêng, phong cho nhà sư (Có thuyết nói là cho tiết việt, cùng với Tể tướng đứng trên điện, xét đoán công việc và đơn từ kiện tụng của thiên hạ, chưa chắc là có thế, có lẽ bấy giờ Nhân Tông sung đạo Phật, phong làm Quốc sư để hỏi việc nước, cũng như vua Lê Đại Hành đối với Ngô Khuông Việt mà thôi (28)
Trong xã hội phong kiến, vua quan thường được cho là “Cha- mẹ” của dân nên vua quan luôn tự cho mình cái quyền được đứng trên đầu trên cổ của người dân. Thậm chí cậy quyền cậy thế mà đánh đập. Tuy vậy, triều Lý đã quy định rõ: Kỷ đậu [Thuận Thiên] năm thứ 2 (1129)(..) xuống chiếu răng nô ty các vương hâu va các quan không được cậy thế đánh đập quan quân va bách tính, kẻ nao phạm thi gia chủ phải tôi đô, nô sung lam quan nô (29)
Cuối thơi Lý tinh hinh xã hội nhêu biến động, giặc cướp nổi lên, nhân dân cực khổ. Nhà vua cũng không còn được sát sao gần gũi với dân như giai đoạn đầu nữa. Sử viếy: “Vua thi ở tít trong cung, giặc cướp bưa bãi, nhân dân ở ngoai thanh lưu ly cực khổ lắm (30)
Tự do, dân chủ đòi hỏi người đứng đầu, người nắm trong tay quyền bínhphải là người công tâm, sự đóng góp của mỗi người phải tương xứng với quyền lợi mà họ được hưởng. Có làm có hưởng, không làm không hưởng. Hay nói cách khác Đã hưởng thì phải làm, phải đóng góp. Quan điểm đó tỏ ra rất hiện đại mà sau này trong quản lý xã hội hiện nay, người ta thường nhắc đến cụm từ: “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Thông qua một câu chuyện giản dị về quả soài trước cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên lần thứ Nhất ở địa điểm bến Bưởi đã được ghi lại như một điển cố hiếm hoi trong lịch sử văn học Việt Nam. Chuyện Cự Đà: “”Đinh tỵ, Nguyên Phong năm thứ 7(1257) Tha tội cho tiểu hiệu là Hoàng Cự Đà. Trước đây, vua cho các quan ăn quả xoài, riêng Cự Đà không được ăn, đến khi quân Nguyên đến Đông Bộ Đầu, cự Đà đi thuyrnf bỏ trốn. Đến Hoàng giang gặp Hoàng Thái Tử đi ngược lên. Cự Đà tránh sang bờ bên kia, thuyền đi rất vội, quan quân hô to hỏi: “Quân Nguyên ở đâu?” Cự Đà trả lời: “Không biết. Các người nên đi hỏi những người ăn quả soài ấy”. Đến khi ấy thái tử xin khép Cự Đà vào tội cực hình để răn những kẻ bất trung. Vua nói: “Tội ự Đà đáng giết cả họ, nhưng đời xưa có anh Dương Châm không được ăn thịt dê đến nỗi quân Trịnh bị thua, tội của Cự Đà là do nỗi của ta đấy, tha tội chết và cho hắn đi đánh giặc chuộc tội”(31)
– Tân Hợi thiên ứng chính bình năm thứ 20(1251): “Vua ban yến ở nội điện, các quan đều dự. Đến khi say, mọi người đứng cả dậy, dang tay mà hát. Ngự sử trung tướng(sau đổi là Trung úy) Trần Chu Phổ cũng dang tay theo mọi người, nhưng không hát câu gì khác, chỉ nói: “Sử quan ca rằng, sử quan ca rằng;”…Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Xem thế đủ thấy, tuy bấy giờ vua tôi cùng vui, không gò bó vào lễ pháp, cũng là điều giản dị, chất phác của phong tục, nhưng không còn chừng mực hì nữa. Hữu Tử nói: “Biết được hòa đồng rồi hòa đồng, nhưng không lấy lễ mà tiết chế, thì cũng không thể làm được”.Ngự sử là bề tôi giữu việc can ngăn, chức phận là phải uốn nắm, đã không nói thì thôi, lại còn vào hùa với họ thì kỷ cương của triều đình để đâu?”(32)
Muốn xã hội tốt đẹp, có kỷ cương thì phải có luật nghiêm minh. Người đứng đầu phải “”Dĩ công vi thượng”, mọi người bình đẳng trước những quy định của triều đình, dù người đó là ai. Những câu chuyên liên quan đến chủ đề này, chúng ta còn được biết qua những đoạn sử ghi về thái độ của Trần Thủ Độ trước những vấn đề giữ nghiêm luật pháp: “Linh Từ Quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo với Thủ Độ: “Mụ này làm vơi ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế”. Thủ Độ tức giận, sai đi bắt. Người quân hiệu hiệu ấy nghĩ rằng mình chức phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ văn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: “Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa”. Lấy vàng lụa thưởng cho rồi cho về”(33).
Chỉ có bình đẳng và dân chủ thực sự mới quy tụ tài năng, nhận được sự đóng góp của mọi người mới đem lại sự thành công. Hưng Đạo Đại Vương đã nhận thấy được vai trò của kẻ bầy tôi, tả hữu. Tự ví mình như chim hồng hộc sở dĩ bay cao được là do sự phù giúp của bề tôi như Yết kiêu, Dã Tượng. Chính Yết Kiêu, Dã Tượng là người đóng vai trò: “Trụ cánh” để cho “cánh chim hồng hộc” Trần Hưng Đạo bay cao, trở thành một vị tướng tài lãnh đạo nhân dân cả nước làm nên cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông- Nguyên toàn thắng. “Trước đây, Hưng Đạo Vương có người nô là dã Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu. Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở bãi Tân, dã Tượng thì đi theo. Đến lúc quan quân thua trận, thủy quân tan cả. Hưng Đạo Vương địng rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói: Yết kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền”. Vương đến Bãi Tân, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó. Vương mừng lắm, nói: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi”. Điều quan trọng là ông đã không vì quyền mà lấn lướt, “quên” công lao của những người lính dưới quyền, ngược lại rất công tâm, công khai đánh giá, ghi nhận tài nghệ của kẻ thuộc quyền.
– Một đoạn trong Hịch tướng sĩ: “Chẳng những thái ấp của ta bị tước mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị người khác bắt đi, chẳng những xã tắc tổ tong của ta bị nguoèi khác giày xéo mà mồ mả cha mẹ các ngươi cũng bị người khác đào bới, chẳng những thân ta kiếp này bị nhục mà, dẫu trăm đời sau, tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn mãi, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là viên bại tướng. Lúc báy giớ, các ngươi có thỏa long vui thú, phỏng có được không?(…) Nay ta bảo các ngươi (…) Như vạy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi lưu truyền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời được hưởng, chẳng những gia quyến của ta được yên ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão, chẳng những tong miếu của ta được muôn đời tế lễ, mà ông cha các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm, chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà các ngươi trăm năm về sau tiếng thơm hãy còn. Chẳng những danh hiệu ta lưu truyền mãi mãi, mà họ tên các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bất giờ các ngươi không muốn vui thú phỏng có được không?. Nên ta viết bài hịch này để các ngươi biết rõ lòng ta”(34)
“Kẻ khác” ở đây là chỉ bọn giặc Thát Đát. Quyền lợi của dân tộc là quyền lợi giữa cá nhân với cộng đồng, người tướng dưới quyền ấy phải biết quyền lợi của người dân với quyền lợi của dân tộc. Sự lựa chọn, cách hành sử, lối sống, mà các tướng phải tự ý thức trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc đã được Trần Hưng Đạo khơi dậy đã động đến tận cùng ở sự nhạy cảm nhất, tinh thần tự nhiệm và lòng tự trọng của từng cá nhân khiến cho họ không thể nào vô cảm trước vận mệnh dân tộc (35).
Có thể nói rằng, triều đại Lý – Trần tồn tại trong một thời gian dài, mặc dù xã hội có nhiều biến chuyển phúc tạp, tình hình nội bộ, giặc ngoại xâm và nhiều nguyên nhân khác đã là mối quan tâm hang đầu của vương triều này trước sự tồn vong của vương triều. Vấn đề tự do dân chủ đã được triều đình cố gắng thực thi trên tảng nền của xã hội lấy Phật gáo làm bệ đỡ tinh thần, điều này rõ nhất trong xã hội triều Lý. Nhưng tự do dân chủ mà không đi liền với việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy triều đình với việc cho ra đời các bộ luật thì sự tự do dân chủ đó chỉ ở mức độ thấp theo kiểu quản lý làng xã. Đến thời Lê, những khiếm khuyết đó đã được bổ sung, hoàn thiện. Nhưng tiếc thay, những điểm sáng về nhân tố tự do, dân chủ tời Lý- Trần không được triều Lê, triều Nguyễn phát huy triệt để, sự vận động của mô hình quản lý xã hội nhà triều Lê lại phát triển theo khuynh hướng quan liêu, tập quyền xa lạ với sự phát triển tự do dân chủ thời Lý – Trần.
N.Q.H
_______
Chú thích:
1. Tễu blog lược một đoạn ngắn.
2. Đào Duy Anh; Hán Việt từ điển, q Thượng, NXBKHXH. H. 1996 tr 1990;
3. Đào Duy Anh; Hán Việt từ điển, Q Hạ, đd tr 339;
4. Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Bản kỷ (BK),quyển (QII), Tờ 4a, 4b, Bd, NxbKhxh. H 1998, T1, tr 242;
5. ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 1a, 1b,; Bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 271;
6. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 9a, bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 246;
7. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 9a, bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 246;;
8. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 13a, bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 249;
9. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 28a, 29a; bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 261;
1. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 28a, 29a; bd, NxbKhxh. . H 1998,T1, tr 261;
2. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 30b, 31a; bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 263;
3. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 15a, bd, NxbKhxh.. H 1998, T1, tr 251;
4. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 18b, bd, NxbKhxh.. H 1998, T1 tr 253;
5. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 21b; bd, NxbKhxh. . H 1998,T1, tr 256;
6. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 19b,20a; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 254;
7. ĐVSKTT, BK, QII, tờ 23b; Bd, NxbKhxh. H. 1998, TI, tr 258
8. (ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 3a, 3b,; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 273)
9. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 30a, 31b; bd, NxbKhxh. H 1998, T1, tr 263
10. ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 8a, 31b; bd, NxbKhxh. H 1998, T1, tr 277
11. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 13a, bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 249;
12. ĐVSKTT, BK<QV,29a, Bd, tập II, tr 34
13. ĐVSKTT, BK, QV, 29a, Bd, T2, NXBKHXH, H 1998, tr 34;
14. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 23b; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 258;
15. ĐVSKTT, BK, QII, Tờ 30b, 31a; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 263;
16. ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 1a, 1b,; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 271
17. (ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 5b,; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 275)
18. ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 9b,; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 280
19. ĐVSKTT, BK, QIII, Tờ 12a; bd, NXBKHXH. H 1998, T1, tr 282
20. ĐVSKTT, BK, quển III, tơ 34b, bd , tập I, tr 303
21. ĐVSKTT, BK,QIV, tơ 30b; bd, tập I, tr 337
22. ĐVSKTB, BK, QV, tờ 34b, Bd, Nxbkhxh, H, 1997, tr 344; ĐVSKTT, Bk, QV,tờ 23a, bd NXb Khxh, 1998, Tập II, tr 28, 29;
23. ĐVSKTT, BK, QV, tờ 18b, Bd, tập II, tr
24. VSKTT,Bk, QV, tờ 28b, Bd, tập II, tr 24
25. ĐVSKTT, BK, QVI, tờ 13b, 14a,b; Bd, tập II, tr 83,84
26. Tham khảo bài viết: Trần Đức Thảo/ Bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo và xã hội Việt Nam thời kỳ hưng thịnh của chế độ phong kiến, Tạp chí nghiên cứu Văn Sử địa, số 5, 1955, tr 31- 39;
————————————-
Tài liệu Tham khảo:
1. Đại Việt sử ký toàn thư , Nxb Khxh. H. 1998
2. Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khxh. H. 1997
3. Việt sử lược, Nxb Văn sử địa, 1960, Trần Quốc Vượng (dịch)
4. Thơ văn Lý- Trần, Nxb Khxh. H. Tập I, 1977, tập II, III, 1978
5. Trần Đức Thảo/ Bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo và xã hội Việt Nam tức Thời kỳ hưng thịnh của chế độ phong kiến, Tạp chí nghiên cứu Văn Sử địa, số 5, 1955, tr 31- 39;
6. Trần Đức Thảo/ Nội dung xã hội và hình thức tự do, Giai phẩm mùa đông, tập I/1956, in lại trong“Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, Tr, 1820 184;
7. Trần Đức Thảo/ Nỗ lực phát triển tự do dân chủ, Báo Nhân văn, số 3, ra ngày 15/10/1956; cũng đọc trong “Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, Tr, 1820 184;

Aside | Posted on by | Leave a comment

Người Việt là nhóm Bách Việt (Yue) đầu tiên hay cuối cùng?

Le Minh Khai
Người dịch: Hà Hữu Nga
Vài tháng trước một bạn đọc đề nghị tôi đáp lại một bài viết [1] có một luận điểm đã được nhấn đi nhấn lại nhiều lần, cho rằng người Việt là nhóm người cuối cùng của “Bách Việt” và họ đã thoát khỏi bị Hán hóa bằng cách di chuyển về phương nam và giữ vững độc lập của mình.
Tác giả của bài viết cho rằng người Việt luôn ý thức mình là Việt qua nhiều thế kỷ và họ duy trì được di sản văn hóa Bách Việt, mặc dù tác giả không hề giải thích rõ ràng cái gì tạo dựng nên di sản văn hóa đó.
Tôi đã bắt đầu viết một bài trả lời [2] bằng cách chỉ ra rằng chúng ta không có bằng chứng về việc là bất cứ nhóm người nào mà người “Trung Quốc” dán nhãn Bách Việt/Yue trong thiên niên kỷ đầu tiên trước công nguyên cũng thực sự tự coi mình là “Việt/Yue” (có lẽ với một trường hợp ngoại lệ là nhóm tinh hoa Nam Việt).
Cái mà chúng ta có bằng chứng là trong nhiều thế kỷ từ cuối giai đoạn TCN đến khoảng 1000 năm SCN có những nhân vật tinh hoa Hán hóa (Triệu Đà*, Lý Bí**, Lâm Sĩ Hoằng [林士弘], Phùng Áng [馮盎]…v.v) đã sử dụng khái niệm Việt/Yue để gọi tên các chính thể mà họ thành lập.
Có phải điều đó có nghĩa là họ đặt tên vương quốc của mình theo tên nhóm người sống ở đó? Chúng ta không có bằng chứng về điều này. Có vẻ như họ chỉ đơn giản sử dụng một cái tên có tính văn chương gắn liền với vùng đó của thế giới.
Một trong những nguyên do tại sao cái tên Việt hình như không thuộc về một nhóm người hoặc một “ý thức”, một “di sản văn hóa” trong thiên niên kỷ đầu tiên SCN là ở chỗ chúng ta không có bằng chứng về một văn hóa mà cả những người bình dân và nhóm tinh hoa đều chia sẻ.
Từ cái mà các nhà nghiên cứu đã phát hiện về văn hóa Bách Việt/Yue, nó tương tự như cái thế giới mà tôi gọi là “những người săn đầu người Đông Sơn” [3] hơn là thế giới của Triệu Đà hoặc Lý Công Uẩn. Thế giới đó rõ ràng là đã biến mất.
Đây là vấn đề mà nhiều sử gia đã thừa nhận. Chẳng hạn, trong những năm 1960, sử gia Nguyễn Phương đã cho rằng Việt là Hán di cư đến vùng châu thổ sông Hồng vào thiên niên kỷ đầu SCN [4] và đã thế chỗ các cư dân sớm hơn ở đó. Đây không phải là ý tưởng gốc của ông. Thay vào đó là quan điểm cho rằng các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bắt đầu nói về điều này ngay từ đầu thế kỷ XX khi lần đầu tiên họ bộc lộ về quan điểm chủng tộc.
Ý tưởng cho rằng có một số lớn di dân đã làm thay đổi cơ bản văn hóa châu thổ sông Hồng đã không được các bằng chứng sử học và khảo cổ học ủng hộ. Tuy nhiên, trong thực tế không cần phải có một dân số lớn mới làm thay đổi đáng kể văn hóa và ngôn ngữ.
Để hiểu được điều này, chúng ta cần suy nghĩ về hai bài viết mà tôi đã đề cập trong blog này: một bài viết về bài của Richard A. O’Conner [5], và bài khác viết về bài của John Phan [6]
Như tôi đã viết trước đây, John Phan cho rằng ngôn ngữ Việt Nam được tạo ra khi một số người nói phương ngữ Trung Quốc chuyển sang nói một ngôn ngữ địa phương (giống như người Normans ở Anh vậy) ở một nơi nào đó vào thế kỷ IX – X, còn Richard O’Conner thì cho rằng những người như người “Việt” hình thành thông qua sự tham gia vào nền nông nghiệp lúa nước. Đặc biệt ông còn cho rằng những người thuộc các tộc người khác nhau dần dần hình thành một “nhóm tộc người” riêng biệt khi họ bắt đầu theo cùng các loại nghi lễ và giao tiếp với các quan chức (khi sử dụng ngôn ngữ “mới” mà John Phan đã xác định) là những người quản lý nguồn nước, thu thuế, …v.v.
Điều mà tôi thấy là đây. Thay vì có một nhóm “Bách Việt” “sống sót”, thì điều có vẻ đã xảy ra là trong giai đoạn cuối đời nhà Đường, có các thành viên của nhóm tinh hoa thuộc khu vực mà ngày nay gọi là nam Trung Quốc và bắc Việt Nam bắt đầu tạo thành các quyển ảnh hưởng riêng của họ và bắt đầu tạo ra một ý thức địa phương cho bản thân họ (điều này trên thực tế đã xảy ra trên toàn bộ đế quốc Đường vào thời gian đó).
Họ không thực hiện điều đó bằng cách đồng nhất hóa với những người địa phương. Thực ra họ có ý định coi nhiều nhóm người xung quanh là “man di”. Thay vào đó, họ sử dụng một số thông tin tồn tại trong các văn liệu (chẳng hạn các ghi chép về nước Nam Việt của Triệu Đà) để tạo ra các tước vị cho các chính thể địa phương và để kết nối các lĩnh địa mới của họ với nguồn thông tin trong các văn bản cổ.
Trong một môi trường như vậy, nó tạo ra một ý thức mà những người như Lý Công Uẩn có thể đã đem đến từ các vùng của cái gọi là Phúc Kiến ngày nay và kết thúc sự thống trị trên một vương quốc thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Họ có thể làm được như vậy vì nhóm tinh hoa trên khắp vùng này đều có chung một văn hóa tinh hoa.
Ngày nay nhiều người có tham vọng phân biệt về phương diện tộc thuộc một số nhóm người sống trong thời kỳ đó. Có những người muốn coi Nùng Trí Cao là “Tày Thái”, trong khi đó lại có người cho Phùng Áng là “Hán”, …v.v.
Trong thực tế thì nhóm tinh hoa trên khắp vùng này đều có chung các tương đồng văn hóa với nhau hơn là với những người mà họ cai trị. Không có lý do gì cho bất cứ một chính thể nhỏ bé nào trong thời gian đó phải bị thống trị bởi những người đồng nhất về phương diện tộc thuộc, vì họ đã được thống nhất bởi một văn hóa tinh hoa, và có lẽ không phải là nhóm tinh hoa ở bất cứ nơi nào thuộc các vùng này cũng đều đồng nhất về phương diện tộc thuộc.
Nếu Lý Công Uẩn thực sự là người Phúc Kiến, thì có lẽ không phải là tất cả mọi người trong cung đình của ông đều giống ông về phương diện tộc thuộc. Cái đã thống nhất nhóm tinh hoa thống trị lại chính là họ có chung một văn hóa, và họ giao tiếp bằng một ngôn ngữ chung (rõ ràng là một ngôn ngữ thứ hai đối với một số người).
Và nếu John Phan đúng thì ngôn ngữ được nhóm tinh hoa vùng châu thổ sông Hồng sử dụng trong thời Lý Công Uẩn nắm quyền vẫn còn là một ngôn ngữ hoàn toàn mới. Hơn nữa, nếu ngôn ngữ này được hình thành khi những người nói một phương ngữ Trung Quốc “chuyển hướng” sang nói một ngôn ngữ địa phương và trong quá trình đó đã đem đến nhiều ngữ vựng mới thì có lẽ đã không có gì quá khó khăn đối với những người đã Hán hóa từ Phúc Kiến đến để học ngôn ngữ đó, khi nó có lẽ có nhiều từ chung với ngôn ngữ riêng của ông ta.
Cùng với thời gian, toàn bộ những điều đó đều thay đổi khi văn hóa tinh hoa này dần dần phổ biến đến người bình dân. Điều đó đã diễn ra như thế nào? Một phần thông qua các quá trình mà O’Connor đã đề cập. Bằng việc tuân thủ trật tự của giới tinh hoa trong việc cam kết với nghề nông làm lúa nước, bằng việc thực hành các lễ thức mà nhóm tinh hoa đã thiết lập, bằng việc lắng nghe các tích truyện về các thần linh địa phương mà nhóm tinh hoa tạo ra nhằm đưa các thần này (mà bản thân người địa phương cũng tin tưởng) vào hệ thống quyền uy của mình, và bằng việc giao tiếp với nhóm tinh hoa bằng ngôn ngữ mà nhóm tinh hoa sử dụng, những người bình dân dần dần thay đổi (tất nhiên quá trình đó không hoàn toàn là con đường một chiều, nhưng tôi lại cho rằng ảnh hướng của nhóm tinh hoa đối với các nhóm không phải tinh hoa là rất lớn – như các trường hợp đã xảy ra mọi nơi trên toàn thế giới.
Quá trình này diễn ra trong nhiều thế kỷ, và trong thực tế nó vẫn còn đang tiếp diễn. Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn những người đang tiếp tục trở thành người Việt.
Vì vậy điều mà tôi muốn nói là không phải người Việt là những “người cuối cùng của Bách Việt” , mà thay vào đó họ là những “người đầu tiên của Bách việt”, vì cái văn hóa và ngôn ngữ ngày nay được thừa nhận là “Việt” chỉ bắt đầu hình thành vào gần cuối thiên niên kỷ I SCN, và thông qua quá trình này mà một nhóm người bắt đầu tự coi mình là “Việt” (chứ không phải là được dán nhãn bởi người bên ngoài bằng cái tên đó, như trường hợp thiên niên kỷ I TCN Bách Việt được đề cập đến trong các nguồn sử liệu thời gian đó), và tự hình dung mình là một nhóm hậu duệ của “Bách Việt”.
Khi tạo ra văn hóa này, nhóm tinh hoa đã sử dụng nguồn thông tin được ghi lại về vùng đó của thế giới trong quá khứ (đó là nguồn của một số thông tin trong các văn bản như Lĩnh Nam Chích quái chẳng hạn) và việc sử dụng tên gọi “Việt”, mãi sau này mới biết, là một trong những mẩu thông tin quan trọng nhất của quá khứ mà họ đã khai thác.
Nhưng đó chính là một tên gọi mà họ đã phát hiện, chứ không phải là tên gọi mà họ đã được thừa hưởng. Vì những người mà “người Hán” coi là “Việt/Yue” thì lại không hề biết rằng họ là “Việt/Yue”. Chúng ta không hề biết họ tự coi mình là ai, đối với trường hợp những người săn đầu người Đông Sơn và toàn bộ những nhóm người khác nhau sống trên toàn bộ khu vực ngày nay được gọi là nam Trung Quốc – và di sản văn hóa của họ đã biến mất từ lâu trước khi Lý Công Uẩn xuất hiện trên chính trường.
Nguồn: The Last or First of the Hundred Việt/Yue?
leminhkhai.wordpress.com/2013/01/13/
Ghi chú của người dịch: *,** “…những nhân vật tinh hoa Hán hóa (Triệu Đà, Lý Bí)” Tôi không rõ ý của Le Minh Khai trong các trường hợp này? Mong anh ấy giải thích kỹ hơn; nếu có thể, thì cả trường hợp Lâm Sĩ Hoằng [林士弘], và Phùng Áng [馮盎]…v.v) nữa.
Tài liệu dẫn
1. Nguyễn Xuân Phước, Bách Việt Trong Lòng Đại Việt, Bài viết được đăng trên trang http://www.anviettoancau.net/anviettc/
2. Le Minh Khai, The Problem of the Term “Việt” In a National History, bài viết được công bố trên trang leminhkhai.wordpress.com/06Sep12
3. Le Minh Khai, Đông Sơn Headhunters, leminhkhai.wordpress.com/27Nov12
4. Le Minh Khai, Nguyễn Phương on the Origins of the Vietnamese Nation, Bài viết được công bố trên trang leminhkhai.wordpress.com/ 08Mar12
5. Richard A. O’Conner 1995. Agricultural Change and Ethnic Succession in Southeast Asian States: A Case for Regional Anthropology, Journal of Asian Studies54.4 (1995): 968-996.
6. John Phan 2010. Re-Imagining ‘Annam’: A New Analysis of Sino-Viet-Muong Linguistic Contact. Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 4, 2010 [南方華裔研究雑志第四卷 Nam Phương Hoa duệ Nghiên cứu Tạp chí đệ tứ quyển].

Aside | Posted on by | Leave a comment

Nhạc Phạm Duy



Aside | Posted on by | Leave a comment

THƠ VỀ CHỒNG !

Chồng là một dạng đàn ông
Một phạm trù rất mênh mông lằng nhằng
Lúc bực khối chị gọi “thằng”
Vui vui các chị gọi bằng “anh yêu”
Chồng là bậc thánh nói điêu
Chém gió phần phật (thả diều bay ngay)
Giúp vợ người rất hăng say
Giúp vợ mình nói “việc này…để mai”
Chồng cậy có một củ khoai
Mình là phái mạnh phải oai với đời
Chồng to như thể ông giời
Chỉ ra mệnh lệnh, vợ thời nghe theo
Chồng là trụ cột, trụ kèo
Vợ là một thứ dây leo bám nhờ
Chồng đi từ sớm tinh mơ
Có khi về lúc….0h hôm sau
Hai chân đá lẫn lộn nhau
“Cười ra thực phẩm” đủ mầu phát kinh
Chồng luôn tự nhận thông minh
Tài giỏi bậc nhất hành tinh loài người
Vợ càng im lặng ngậm cười
Chồng càng lấn tới gấp mười lần hơn
Chồng là ông chủ ban ơn
Chồng là ngọn núi Thái Sơn cao vời
Trèo lên chắc mệt đứt hơi
Nên ta chấp nhận ở nơi dưới chồng
Chồng vững như sắt như đồng
Những lời ta nói là không ích gì
Chồng là một chiếc ti vi
Nhưng ta không thể tắt đi khi cần
Chồng là thánh, chồng là thần
Trượt chân rơi xuống cõi trần mà thôi
Nên vốn dĩ đã thế rồi
Đắng lòng vợ chỉ biết ngồi khóc than
Bụt hiện lên mới hỏi han
Nghe ta kể những trái ngang đời mình
Nghe xong….biến mất thình lình
Rồi gửi mail lại “tình hình…bó tay”
Ta đành ngậm đắng nuốt cay
Vận công để viết thơ này kêu oan
***
Đàn ông sợ vợ mới ngoan
Không biết sợ vợ hoàn toàn là sai
Sợ vợ mới đáng mặt zai
Kính vợ mới có tương lai huy hoàng
Đàn ông sợ vợ mới sang
Nếu không sợ vợ tan hoang của nhà
Dẫu sao vợ cũng đàn bà
Một phạm trù rất rườm rà mênh mông
Nên mới đặt cạnh đàn ông
Một phạm trù cũng mênh mông rườm rà.
(Sưu tầm)

Aside | Posted on by | Leave a comment

10898105_400333530132353_4866454482873268673_n

Aside | Posted on by | Leave a comment

Nhạc sĩ Phạm Duy

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Duy

Aside | Posted on by | Leave a comment

Ngô Thụy Miên Với Những Tình Khúc Bất Hủ

Aside | Posted on by | Leave a comment

tinh khuc Trịnh Công Sơn- Phạm Duy

Aside | Posted on by | 1 Comment

PHƯƠNG ĐÔNG – PHƯƠNG TÂY

images
download1. Tất cả các nền văn minh lớn của phương Đông đều hình thành bên những dòng sông là điều hầu như ai cũng biết. Thế nhưng, rất ít người chú ý rằng tai họa bắt đầu từ đó. Khi công cụ sản xuất còn thô sơ và quan hệ sản xuất chưa phát triển thì nhu cầu tổ chức, liên kết đông người để đào kênh, đắp đê (trị thủy) đã buộc phương Đông đẻ non nhà nước. Không đủ hiểu biết – nhất là luật pháp để
quản lý, nên các ông vua phương Đông chọn giải pháp ngắn nhất, hiệu quả nhất và, tàn nhẫn nhất: Chuyên chế hóa, thần thánh hóa vương quyền. Hãy cứ mở lịch sử ra sẽ thấy rằng 5.000 năm, cả phương Đông đều chỉ có một mô hình nhà nước duy nhất là chế độ chuyên chế(!) Đây quả là điều kỳ lạ, điều hiển nhiên nhưng lại là điều bí ẩn nhất của lịch sử. Tại sao lại thế? Lưỡng Hà, Ai Cập bên kia hay Trung Quốc bên này, có liên hệ gì với nhau đâu sao mô hình nhà nước lại được tuyệt đối hóa như nhau?
Việc nhà nước bị đẻ non quả là lỗi lầm lớn nhất của lịch sử phương Đông. Càng kém cỏi thì càng cố tỏ rõ uy quyền, càng mặc sức lộng hành và coi thường dân chúng, càng ăn chơi phung phí, xa hoa vì luôn nghĩ rằng cái ngày mai bất thường đó sẽ ập đến và, chẳng còn cơ hội nữa. Tất nhiên, “may mắn” là nhờ thế nên phương Đông mới có Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành, Lăng Ly Sơn…, để suốt ngày phổng mũi trước phương Tây! Quả là đáng buồn khi sự vô ơn và vô cảm của con người thời văn minh chẳng cần nhớ đến mạng sống của hàng triệu người bị vùi trong các “kỳ quan” trên – ra đời từ sự hống hách ngang ngược của bạo quyền.
2. Ông Nguyễn Đình Chú trong bài viết của mình không hề nhắc đến hai nền văn minhLưỡng Hà và Ai Cập, là điều thật khó chấp nhận. Đó là những nền văn minh đã sản sinh ra chữ viết và luật pháp trước các nền văn minh khác hàng ngàn năm(!) Bộ luật Hammurabie được làm trong khoảng thời gian từ 1792-1750 tr.CN có Điều 5 (trong số 282 điều) diệu tuyệt: “Nếu quan tòa, do thiếu công minh hoặc kém khả năng mà xử án sai, bị phạt số tiền gấp 12 lần nguyên án và bị cách chức vĩnh viễn”3.800 năm đã trôi qua không hề làm giảm tính bất tử củađiều luật đó: Ngay cả bây giờ, quan tòa cứ xử án sai cũng không hề hấn gì, trong khi nhà nước phải xin lỗi, rồi lấy tiền thuế của dân ra để bồi thường? Chỉ riêng điều này, phương Đông – Đông Á xứng đáng để văn hóa phương Tây áp đảo. Tại sao chúng ta không thấy rằng mặc dù văn minh phương Đông ra đời trước phương Tây hàng ngàn năm lại bị phương Tây bỏ rơi và nô dịch? Câu trả lời nằm ở sự khác biệt giữa chuyên chế và dân chủ. Từ trước công nguyên, người La Mã đã đấu tranh để vua (rex) là của chung (publica) và nhờ thế mới có nền cộng hòa (Republic), có nghị viện (Sénato = > Thượng nghị viện, senate). Nhà nước Athènes có bồi thẩm đoàn (jurie = Jury), có polis (thành phố) để sinh ra người duy trì trật tự trong thành phố (police). Cho đến bây giờ, hàng chục nước phương Đông không hề có bồi thẩm đoàn – lạc hậu hơn phương Tây ít nhất là 2.500 năm(!) Không phải ngẫu nhiên mà trong bộ bài Tây ngoài vua (King, con Già), hoàng hậu (Queen, con Đầm) còn có nhân vật thứ ba là con bồi (J = Jury).Nếu muốn nhìn rõ hơn một chút về văn hóa chính trị thì cứ so sánh cờ tướng và cờ vua sẽ thấy. Trong bàn cờ vua, quan hệ âm dương, nam nữ (vua và hậu) rất rõ; còn cờ tướng làm gì có âm? Ấy thế mà hầu như ai cũng ngộ nhận âm – dương là “đặc sản” của phương Đông. Đó là chưa nói chính phương Đông đã coi thường âm – dương khi người đàn ông có quyền có năm thê bảy thiếp, thậm chí hàng ngàn vợ trong khi phương Tây thực sự hài hòa với cái khung nghiêm ngặt một vợ, một chồng của văn minh Công giáo.
Trở lại với chuyện bàn cờ. Vua của phương Tây khi cần sẽ xông pha ra trận còn vua phương Đông cứ ru rú nấp dưới lâu đài của vạn sự tung hô. Con tốt mới là tuyệt kỹ của phương Tây về nhân cách: Chỉ là tốt thôi, nhưng nếu đi hết cuộc “chiến tranh” sẽ được phong thành con cờ mạnh nhất. Mới chơi cờ, hầu như người phương Đông nào cũng ngạc nhiên vì sao hậu lại là quân cờ mạnh nhất? Thực ra, đó mới đích thị là sự tư duy toàn diện, thực dụng, sâu sắc của phương Tây. Hậu chính là hậu phương, là tổ ấm – chỗ dựa của bất kỳ người lính nào (kể cả vua). Chiến tranh mà không có hậu phương thì chỉ có vất đi. Hậu còn là sự uyển chuyển và linh hoạt, khéo léo. Hậu nhắc nhở người chơi cờ rằng mạnh nhất không phải là sự đồng nghĩa với chuyện nên di chuyển (tấn công) đầu tiên. Nếu bàn thêm về chuyện sông trong cờ tướng (biên giới) và không có sông trong cờ vua, ta sẽ thấy cái biên giới tự nhiên (sông) của phương Đông nó kỳ quái, bảo thủ vì hực ra đã là chiến tranh – nhất là chiến tranh giữa thảo nguyên, với kỵ binh thì làm gì còn biên giới? Người phương Đông bảo thủ nên lạc hậu là đúng rồi: Con mã gặp cản thì không đi được trong khi với phương Tây, một trong những môn thể thao hay nhất, đáng kể nhất là phi ngựa vượt rào…Tính dân chủ và linh hoạt; cách nhìn toàn diện; chấp nhận thách thức và sẵn sàng vượt qua nó, là 3 yếu tố quan trọng nhất để phương Tây hơn hẳn phương Đông.
3. Tất cả các tôn giáo lớn đều sinh ra ở phương Đông phương Đông không chỉ có Nho gia (và chắc gì Nho gia ảnh hưởng nhiều hơn Phật gia?) và, nếu không hiểu Công giáo– Tôn giáo phổ quát cho tất cả mọi người (Catholique, Catholic), thì chẳng bao giờ hiểu nổi văn minh phương Tây.Theo các số liệu mà chúng ta có (rất tương đối về độ chính xác, tin cậy), thì tôn giáo ra đời sớm nhất là đạo Do Thái (1225 tr.CN) ở Trung Đông; Ấn Độ giáo (Brahma = Bà La Môn) khoảng 1000 năm tr.CN; Phật giáo (Ấn Độ), Đạo giáo, Nho giáo (Trung Quốc) khoảng 500 năm tr.CN; Công giáo (Trung Đông), Thần Đạo (Nhật Bản) khoảng đầu công nguyên và Hồi giáo (Trung Đông) năm 622. Như vậy, tất cả mọi tôn giáo đều là của phương Đông như đã nói ở trên.Cái hay của văn minh phương Tây là đã “chọn” ngay Cônggiáo để nhất thể hóa, tây phương hóa thành tôn giáo riêng của văn minh của người da trắng (sau này sẽ phát triển thêm sang các chủng tộc khác), tuy cái sự “ngay” đó cũng phải dài đến hàng trăm năm – chính thức là dưới thời của Hoàng đế Constantine (đầu thế kỷ IV). Công giáo nói riêng và các tôn giáo khác nói chung tại sao trường tồn bất chấp ý thức hệ, bất chấp sự thay đổi của các phương thức sản xuất, bất chấp mọi chế độ chính trị? Muốn nói gì đi nữa thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng “sản phẩm” bền vững nhất, có sức sống mãnh liệt nhất, đẹp và thiêng liêng nhất của mọi nền văn minh chính là tôn giáo.
Tại sao? Xin trả lời tàm tạm như sau:
1) Có những bí ẩn mà con người không bao giờ biết được buộc con người phải tin rằng có một Đấng Sáng Tạo thực sự và, nói như Bill Clinton tại Hà Nội (tháng 11.2000), “Con người phải được tự do tôn thờ Chúa theo cách riêng của mỗi người”.
2) Con người có quá nhiều nỗi đau nên họ nhất thiết phải tìm đến sự an ủi, sự đền bù từ ngày mai (kiếp sau) để sống thoát qua những đau khổ, dập vùi.
3) Khi chưa có nhà nước hoặc đã có thì nhà nước, tự nó, không bao giờ đủ khả năng để cưỡng chế dục vọng, duy trì đạo đức. Chỉ có tôn giáo mới làm được điều này (cũng xin mở ngoặc rằng mặc dù không thuộc về tôn giáo nào nhưng tôi tin người có đạo tốt hơn người không có đạo bởi người có đạo biết sợ, biết hối cải, biết ăn năn thường xuyên, biết làm điều tốt nhiều hơn…).
4) Chính các thầy tu hay các linh mục…, là những người có học vấn uyên thâm nhất (xưa nay hầu hết đều thế) nên có thể coi các đền, chùa hay nhà thờ đều là những trung tâm văn hóa – giáo dục, đảm trách việc di truyền văn hóa suốt hàng ngàn năm.
5) Sự phân hóa, chia rẽ, mất đoàn kết là thuộc tính tự nhiên của con người và, chỉ có thể giảm bớt bằng liên kết tôn giáo (dĩ nhiên nếu sự cố kết cộng đồng tôn giáobiến thành sự cực đoan thì sẽ trở thành cuồng tín, sai lạc).
6) Con người có xu hướng đi tìm thần tượng, sự thiêng liêng để dâng hiến, sáng tạo. Không có thần tượng nào đẹp hơn Chúa – Allah – Budha – Khổng Tử – Lão Tử – Thái Dương Thần Nữ. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà gần 70% các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, hội họa, văn học… đẹp nhất, đáng kể nhất đều liên quan đến đề tài tôn giáo.
7) Nhu cầu giải thoát khỏi cuộc sống đơn điệu, nghèo nàn về tinh thần là khát vọng của hàng ngàn năm. Chính các lễ hội của tôn giáo đã làm phong phú thêm cuộc sống của con người.
8) Mong muốn quyền lực – dù “vô tình” hay cố ý là một điều kiện, một nhu cầu luôn luôn có trong tất cả các tôngiáo (các lãnh tụ).
9) Tôn giáo cần như một đối trọng, một quyền lực thứ hai (bây giờ là thứ 5, song hành cùng với lập pháp, hành pháp, tư pháp, báo chí) để thần quyền đối trọng với vương quyền nhằm hạn chế bớt sức mạnh của vương quyền.
10) Cuộc đời của con người luôn là sự mâu thuẫn, giằng xé của cuộc đấu tranh giữa tình cảm (trái tim) và trí tuệ (suy nghĩ). Không có bất kỳ một sự diệu tuyệt tư tưởng – đạo đức – ý chí nào có thay thế được tôn giáo vì trong đó, có cả hai điều quan trọng nhất ấy.Từ những phác thảo trên đây, chúng ta mặc nhiên phải thừa nhận rằng Văn minh Công giáo (phương Tây) là thực nhất, đúng
nhất, hiệu quả nhất với con người (ý kiến này chắc sẽ bị phản đối nhiều). Muốn nói gì đi nữa thì chế độ một vợ một chồng là đóng góp vĩ đại của nó. Nghịch lý văn hóa – tinh thần truyền thống (từ dùng của Nguyễn Đình Chú) xẩy ra: Công giáo bảo vệ phụ nữ (người đàn bà sợ nhất là bị chồng bỏ, quan niệm xưa); Hồi giáo bảo vệ đàn ông (cho lấy 4 vợ); còn Phật giáo cứ loay hoay ở giữa nên rất ít người theo (hơn 300 triệu tín đồ Phật giáo, gần 2 tỷ tín đồ Công giáo và hơn 1 tỷ tín đồ Hồi giáo).
4. Văn minh phương Tây coi thách thức là cơ hội (như đã nói) trong khi phương Đông cứ Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống… Tiếng chuông nhà thờ mỗi sáng là sự thúc giục “dậy đi, nhanh lên, vượt qua đi” còn tiếng chuông và tiếng mõ chùa là “ngủ đi, ngủ đi”… Nho giáo có không ít điều tích cực nhưng sự bảo thủ là vấn nạn khủng khiếp của nhận thức, “truyền thống” bị biến thành tiếng thở dài của chấp nhận và chịu đựng. Nhân danh “ổn định”, Nho giáo khước từ mọi thay đổi. Cứ nhìn vào câu đối, cách thi cử suốt hàng ngàn năm sẽ thấy, Nho giáo không chấp nhận bất kỳ sáng kiến nào – đồng nghĩa với sự hủy diệt sáng tạo. Làm sao có thể tin rằng Ba ông thợ da bằng Gia Cát Lượng? Napoléon Bonaparte nói (đại ý): “Một triệu kẻ ngu đần không thể tạo ra một thiên tài và một triệu kẻ hèn nhát không thể có được quyết định dũng cảm”. Cái lấp lánh của văn minhphương Tây chính là chỗ đó. Nó ghi nhận rằng chỉ có tài năng, sức mạnh thực sự mới xứng đáng cầm quyền. Tại sao cả nước cứ quỳ sụp xuống để tôn thờ một ông vua hai tuổi nằm trong nôi rằng thánh thượng anh minh vạn, vạn tuế? Sự ngu xuẩn, ươn hèn của người phương Đông trong suốt hàng ngàn năm dưới chế độ chuyên chế đã tự động, tự nhiên biến họ thành những kẻ luồn cúi và chấp nhận thực tại một cách thảm thương. Thử giở lịch sử La Mã ra làm ví dụ: Từ thời của Augustus (năm 30 A.D. – 14 B.C) đến thời của Commodus (180-192), hơn hai trăm năm đó chỉ có một trường hợp duy nhất cha truyền con nối làm vua nhưng thực ra cũng là do Commodus giết cha (triết gia, nhà thơ Eurelius) để tiếm quyền. Phương Đông hoàn toàn khác: Cứ con ông, cháu cha, bất kể ngu dốt cỡ nào, mặc sức có quyền thao túng vận mệnh giống nòi. Cách tư duy bất kể quy luật con đầu đàn – kẻ mạnh nhất, khôn ngoan nhất là kẻ đứng đầu, đã làm cho phương Đông với cách nghĩ “sống lâu lên lão làng” -chệchđường, liên tục sa vào những cái hố sâu của đau đớn, tủi nhục ê chề. Nói như thế để thấy rằng văn hóa phương Tây áp đảo phương Đông là đúng với quy luật của lịch sử. Cho dù phương Đông có không ít những điều tốt đẹp nhưng, thử một lần chúng ta nhìn quanh mình xem sẽ thấy trên 90% vật dụng hàng ngày liên quan đến văn hóa, văn minh đều được sáng tạo ra từ cách nghĩ, cách làm của phương Tây. Đóng góp cho nhân loại nhiều như thế không thể là xã hội – văn minh xấu xa, phải giãy chết, như chúng ta vẫn được nghe rao giảng đầy dối trá, mỗi ngày!
Hiện thực lịch sử – thực tiễn đó là không thể chối cãi. Đừng hoài niệm quá khứ quá nhiều bởi truyền thống nào chẳng có tính bảo thủ? Dù có muốn lập luận cách gì đi nữa thì từ mô hình nhà nước, các khái niệm dân chủ, cộng hòa, nền văn minh công nghiệp…; đều là những mô hình mà phương Tây đã phổ biến trên đa phần của thế giới. Hoài niệm cái cũ quá mức chỉ là cách kéo dài thêm một chút sự bất công, lận lầm, đau đớn và kém cỏi mà thôi. Tất cả những nước học theo, làm theo khuôn mẫu của văn minh phương Tây từ cổ đại đến hiện đại (Hy Lạp, Roma, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Mỹ…) đều giàu có, dân chủ, nhân văn.Có thể bạn sẽ đặt ngược câu hỏi rằng tại sao Hy Lạp bây giờ tai ương thế? Đó chỉ là sự trục trặc của cái biến tướng sai lầm của lãnh đạo – điều tiết nhất thời. Quy luật của muôn đời: Đất nước cũng chỉ là một giađình mở rộng. Bố mẹ giỏi thì con cái đỡ cơ cực và ngược lại. Dân tộc lầm than chỉ có thể là do lãnh đạo ngu dốt và thiển cận mà thôi (nguyên nhân chủ yếu nhất). Cứ nhìn vào Nhật Bản sẽ thấy rất rõ: Tài nguyên chỉ có bãotố và động đất nhưng vẫn là cường quốc kinh tế số hai thế giới. Lý do: Lãnh đạo vì danh dự, vì giống nòi còn người Nhật luôn coi bổn phận, trách nhiệm là lẽ sống – cái lý cần phải có để tồn tại trong cuộc đời này. Tại sao không nhìn vào thực tế đó mà cứ chạy quanh để kiếm tìm những “giá trị” viển vông?
Hà Văn Thịnh
Tel: 0914.079.210.

Aside | Posted on by | Leave a comment

Truyền thống

“truyền thống” bị biến thành tiếng thở dài của chấp nhận và chịu đựng.

Aside | Posted on by | Leave a comment